Một ngày đầu tháng 9, ngồi ở thư viện, mình bắt gặp dòng chữ ai đó khắc trên bàn: “I’m on a boat”. Không biết câu này có ý nghĩa thành ngữ hay thực sự ẩn dụ điều gì, mình chỉ đơn thuần dịch nghĩa đen: Tôi đang ở trên một con thuyền. Nhìn trân trân vào mấy chữ đó, mình thấy như nó đang mô tả tình cảnh của mình. Trên con thuyền, mình nhỏ xíu và tròng trành giữa đại dương.

Kỳ này, trong cả bốn môn học, mình là sinh viên thạc sĩ duy nhất. Các bạn khác đều học chương trình tiến sĩ, năm nhất hoặc năm hai. Cái cảm giác mình là người duy nhất là một trải nghiệm không dễ dàng cho lắm và khiến quá trình vượt lên “imposter syndrome” (tạm dịch: hội chứng kẻ mạo danh) thêm phần khó khăn.
Imposter syndrome là một hiện tượng được đặt tên bởi hai nhà tâm lý học Pauline Clance và Suzanne Imes năm 1978. Trong nghiên cứu của mình, họ phát hiện ra nhiều phụ nữ thành đạt thực sự tin rằng mình không xứng đáng. Đây không phải một sự khiêm tốn thông thường. Imposter syndrome chỉ cảm giác sâu sắc rằng bản thân không xứng đáng với thành công mình đã đạt được, cùng nỗi sợ người khác “phát hiện” ra mình không tài giỏi đến mức đấy. Đây là một hiện tượng khá phổ biến ở các sinh viên cao học, nên trong các tiết học đầu tiên về định hướng nghề nghiệp, tụi mình đều được thầy cô chia sẻ và gửi các tài liệu đọc liên quan. Một bài báo khoa học cô gửi mà mình rất thích có tên Những trải nghiệm học thuật phổ biến ít ai nói đến: Bị từ chối nhiều lần, Hội chứng kẻ mạo danh và Kiệt sức.

Mình nhớ đoạn nói về trải nghiệm của chị nọ, một phụ nữ da màu làm việc trong các tổ chức chủ yếu là người da trắng ở bậc giáo dục đại học. Chị thường là người da màu duy nhất trong một ủy ban, trong bộ phận của mình hoặc trong tòa nhà văn phòng. Việc thấy mình là “duy nhất” trong một không gian dường như liên quan tới cảm giác lo lắng về các khuôn mẫu và khiến chị nghĩ rằng bản thân không phù hợp với vị trí đó. “Đánh giá này đã khiến tôi hạ thấp sự tán dương mà tôi nhận được cho công việc của mình, tôi không chắc liệu mình có xứng đáng hay chỉ đơn thuần là một cách “ủng hộ sự đa dạng”. Đọc đến đây, mình gật như bổ củi.
Sau này, chị lấy bằng tiến sĩ tâm lý để giảng dạy và cố vấn cho sinh viên, mong muốn truyền đạt sự hiểu biết về phân biệt đối xử và định kiến để những sinh viên của các nhóm thiểu số/ít được hiện diện cảm thấy rằng họ hoàn toàn có thể làm được. Điều này cũng làm mình nhớ tới câu “If you talk the talk, you have to be able to walk the walk”. Một những thực hành nhỏ trên hành trình tìm cảm giác thuộc về của chị là viết lách trong một cuốn sổ, ngoài bìa dòng chữ “Suy ngẫm của một cô gái da màu diệu kỳ”. Ui chao!

Trong buổi gặp riêng với thầy cố vấn học tập, mình cũng lựa chọn thành thật chia sẻ với thầy về những điều mình mình học được với sự thích thú, cả những bỡ ngỡ và tiếng nói bên trong khiến mình loay hoay và bối rối vào thời điểm đó. Thầy nhắc mình nhớ về những “tài sản” của mình, về sự độc đáo trong trải nghiệm sống và công việc, và cho mình một số gợi ý cụ thể về cách thích ứng trong lớp. Nhờ đó, mình có những diễn biến tích cực hơn mỗi ngày tới lớp. Mình nhận ra một điều quý báu sau buổi gặp với thầy, đó là những cảm giác lẫn lộn của mình đã được bày tỏ và ghi nhận (validate). Như cách một người bạn đã lắng nghe và nhắn lại cho mình. Chỉ với bốn từ “Ôi chị rất hiểu”, tự dưng, mình thấy mạnh trở lại. Không cần gì hơn thế.
Một lần nữa, điều này nhắc mình về nhịp phản hồi đầu tiên sau khi lắng nghe một ai đó. Thay vì nói những điều mang tính thúc đẩy “cứ mạnh dạn lên”, “tự tin lên”, gạt đi như “đừng sợ”, “đừng lo”, hay ẩn ý về một đám mây hồng “cậu mạnh mẽ mà”, “rồi sẽ ổn thôi”, mình cho họ một tín hiệu của sự hiện diện và ghi nhận trước hết.

Tối qua, mình gọi về cho mẹ. Nhìn mình, mẹ thảng thốt “Sao mắt quầng thế kia, con thiếu ngủ hả?”. Mình cười hề hề “Vẫn xinh mẹ nhỉ?”. Các bà mẹ trên đời quả là bác sĩ biết tuốt, tài thật! Mình không để ý mắt mũi, nhưng thiếu ngủ là có thật.
Nhiều năm trước, một người em từng cho một “chân lý” như sau “Ơ sao hôm nay chị xinh thế. Lúc chị nói về công việc đang làm mà chị thấy thích ấy…”. Công việc mình đang làm những tuần qua là học, học, và học. Sự nỗ lực và tập trung học tập là một điều mình trân trọng vô cùng. Nó không phải một cuộc chạy đua, mà dường như là một chuyến bộ hành với niềm vui khám phá những điều nhỏ trên đường, và cũng là thước đo sự gan lì của bản thân nữa. Có vẻ như điều này lại phù hợp với chân lý của một người bạn khác, người gọi mình tới tận nửa đêm, cũng để nói về cái cảm giác nhỏ bé và chẳng-biết-gì-cả, rằng càng thấy mình “dốt”, bạn càng thấy hứng khởi với những điều sắp được học, được biết.

Chiều thứ sáu nọ, cầm mấy dòng chữ viết tay thầy ghi trong hai bài thi, mình mém khóc. Đó là môn mình lo lắng nhiều vì không có nền tảng và kinh nghiệm. Được thầy khen, mình nhớ về những lúc bản thân mò mẫm và cặm cụi, quyết làm bằng được, dù làm rồi cũng không chắc chắn là kết quả tới đâu. Để rồi mừng rỡ và cảm động khi nỗ lực của bản thân tới nơi xứng đáng.
Trong sự hân hoan, mình chia sẻ với thầy cố vấn, nói rằng thầy ơi, em đã thấy mình trên con thuyền nọ, nhưng ở một tâm thế khác. Trên con thuyền, mình chèo lái vượt qua các con sóng. Dù đại dương vẫn rộng, sóng vẫn từng đợt gập ghềnh, nhưng mình cầm chặt mái chèo. Biết rằng đây là hành trình trong tay mình, thuộc về mình.
Nhân tiện mượn hình ảnh con thuyền, mình sẽ kể bạn nghe về một chuyến gặp gỡ diệu kỳ vượt đại dương của mình.
Chả là tháng 4 này, trong bài viết Mở mang từ sự mất mát, mình có trích một đoạn bài viết trên tờ The Washington Post. Ngoài những đồng điệu trong nội dung bài viết, mình reo lên khi thấy dòng mô tả cuối bài. Tác giả một nhà văn và học giả sống ở Missouri. Cô đang viết một cuốn sách về cuộc đời của bố cô. Lúc đó, một trong hai trường mình cân nhắc nằm ở Missouri. Mình nghĩ bụng, nếu có duyên tới Missouri, mình sẽ gửi cho cô nhà văn một lá thư.
Sau này, mình lựa chọn học ở Missouri thật. Khoảng thời gian đầu cần thích nghi nhiều mặt, ý định ngày nào mình cũng không còn nhớ. Mọi thứ bẵng đi cho tới một ngày giữa tháng 9, mình thấy ảnh thầy cố vấn của mình và ảnh cô nhà văn nọ đặt cạnh nhau trong một bản tin của trường. Không phải một thành phố nào khác ở Missouri, không phải một trường đại học nào khác, cô đang giảng dạy tại chính College of Education and Human Development, chỉ là khác khoa mình. Không thể tin, mình đã băng qua đại dương hơn 9,000 dặm, và thì ra mình và cô gần nhau hơn tất cả những gì mình có thể tưởng tượng.
Thấy mình mắt tròn xoe kể về sự tình cờ nọ, thầy đã viết một lá thư, giới thiệu mình và cô, để không gian để hai cô trò tự chuyện trò. Không phải mối quan hệ giáo sư và sinh viên, mình viết cho cô một lá thư gần gũi, riêng tư, chỉ để chia sẻ về việc bài viết của cô có ý nghĩa với mình như thế nào.
Cô hồi đáp bằng một lá thư dài. Có đoạn cô kể về khoảng thời gian từng ở một số nước Đông Nam Á, cô luôn nghĩ về cách văn hóa ảnh hưởng tới kỳ vọng chăm sóc bố mẹ lúc tuổi tuổi già. Cô đã thực sự cảm động trước sự chăm sóc mà những người bạn Miến Điện và Thái Lan của cô dành cho cha mẹ họ, và khi họ bày tỏ rằng việc chăm sóc họ khi về già không chỉ là nghĩa vụ mà còn là đặc ân của các con. Khi những bài báo khoa học được thảo luận trong môn học cho mình cảm giác có phần phiến diện khi viết về văn hóa Á Đông, khi nói nhiều về câu chuyện của gánh nặng, tuân thủ, giữ thể diện, chia sẻ của cô mang đến một góc nhìn nữa.

Bạn cùng nhà từng hỏi mình, trong hai nguyện vọng, tại sao mình không lựa chọn ngôi trường kia. Đó luôn là ngôi trường mơ ước của bạn và thường được biết đến với thứ hạng cao hơn nhiều trong ngành. Mình cười.
Tự hỏi rằng mình có tiếc nuối không? Mình không biết. Nhưng mình tin vào con thuyền nọ. Tin rằng cùng với mái chèo của mình, con thuyền sẽ đưa mình tới nơi mình thuộc về. Một ngày.
Bình luận về bài viết này